Đánh giá tình trạng đau bụng ở trẻ em

Đánh giá đau bụng là một thách thức trong chẩn đoán trên lâm sàng. Trẻ em có thể hạn chế trong khả năng đưa ra tiền sử chính xác. Bố mẹ hoặc người bảo trợ cũng có thể gặp khó khăn khi giải thích các triệu chứng bất thường của trẻ nhỏ. Ở rất nhiều ca bệnh, các nguyên nhân lành tính có thể gây ra ít di chứng lâu dài. Tuy nhiên, một số ca cần chẩn đoán và điều trị nhanh để ngăn chặn đáng kể tỷ lệ mắc bệnh hoặc tỷ lệ tử vong. Xem xét độ tuổi của trẻ có thể giúp thu hẹp chẩn đoán phân biệt để định hướng các bệnh lý đặc trưng ở trẻ em.

Tiền sử

Bác sĩ cần xác định sớm xem liệu đau bụng bản chất là cấp tính hay mãn tính, vì điều này sẽ giúp xác định mức độ khẩn cấp của điều trị. Đau bụng cấp tính thường là diễn biến đơn lẻ kéo dài vào giờ đến vài ngày. Cơn đau có thể thay đổi mức độ theo thời gian, thường đau cục bộ và được mô tả là đau nhói và/hoặc rất dữ dội. Ngược lại, đau bụng mãn tính thường kéo dài vài ngày đến vài tuần đến vài tháng, và thường âm ỉ, lan tỏa, và không xác định vị trí. Có thể có các khoảng thời gian không đau với khoảng cách khác nhau, và khi xảy ra lại, cơn đau có thể có cường độ khác nhau. Ngoài ra, tiền sử có thể có những đặc điểm sau:

  • Khởi phát, tần số, khoảng thời gian và thời điểm trong ngày mà cơn đau bụng xảy ra: viêm dạ dày ruột kéo dài >10 ngày cho thấy nguyên nhân là ký sinh trùng hoặc không nhiễm trùng; khởi phát và tiến triển của viêm hạch mạc treo có thể âm ỉ hoặc đột ngột; các giai đoạn đau tái diễn và tự khỏi là đặc trưng của đau bụng do đường mật, nếu cơn đau kéo dài hơn 24 giờ là dấu hiệu của viêm túi mật cấp tính; đau hông khởi phát đột ngột có thể là dấu hiệu của bệnh sỏi thận hoặc viêm thận – bể thận
  • Nếu cơn đau là cục bộ hoặc lan toả: đau PTDBP là dấu hiệu của bệnh viêm ruột thừa; Bằng chứng A  đau thượng vị là dấu hiệu của bệnh viêm loét dạ dày; cơn đau lan tỏa có thể cho thấy thủng hoặc viêm màng bụng
  • Nếu cơn đau lan hoặc dịch chuyển giữa các khu vực của vùng bụng: đau bụng lan về phía lưng là dấu hiệu của viêm túi mật hoặc viêm tụy
  • Bất kỳ yếu tố nào làm cơn đau đỡ hơn hoặc tệ hơn, ví dụ như cử động, đồ ăn hoặc thuốc: đối với bệnh sỏi mật/viêm túi mật, cơn đau thường diễn ra sau khi ăn (đặc biệt là đồ ăn giàu chất béo); đau thượng vị do viêm loét dạ dày thường liên quan đến các bữa ăn
  • Đặc điểm của cơn đau: đau do viêm loét dạ dày về bản chất thường âm ỉ hơn là đau bùng phát; đau nhói là điển hình của viêm ruột thừa
  • Biểu hiện và mức độ nghiêm trọng của bất kỳ triệu chứng đi kèm nào ví dụ như: sốt, buồn nôn, nôn, biếng ăn, tiêu chảy (viêm dạ dày ruột); mệt mỏi, vàng da (viêm gan do virut); li bì, đau đầu, ho, khó thở (viêm phổi hoặc tràn mủ màng phổi); đau ở bất kỳ chỗ nào khác (ví dụ như đau tinh hoàn khởi phát đột ngột là dấu hiệu của xoắn tinh hoàn), phân có máu (viêm đại tràng loét, viêm ruột hoại tử, chứng kiết lỵ), và máu hoặc dịch mật trong chất nôn (tắc nghẽn ruột non)
  • Sự hiện diện của các triệu chứng tiết niệu sinh dục: bí tiểu, tiểu nhiều, và tiểu máu là dấu hiệu của NTĐT; chảy dịch âm đạo là dấu hiệu của bệnh viêm vùng chậu (BVVC); nếu đang có kinh có thể là dấu hiệu của đau bụng khi có kinh
  • Tiền sử chấn thương: xem xét khả năng đụng dập hay đâm xuyên, tai nạn hay có chủ ý
  • Tiền sử dịch chuyển: di chuyển đến các quốc gia đang phát triển làm gia tăng nguy cơ nhiễm viêm gan do virut và viêm dạ dày ruột do nhiễm khuẩn
  • Bệnh sử trong quá khứ tập trung vào các lần phẫu thuật trước đó, sử dụng thuốc, tiêm chủng, dị ứng, và các bệnh đồng mắc: bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu lưỡi liềm hoặc xơ nang có nguy cơ cao mắc bệnh sỏi mật; bệnh nhân có tật nứt đốt sống, chậm phát triển và bại não dễ bị táo bón; bệnh nhồi máu lách có thể là hậu quả của bệnh hồng cầu lưỡi liềm; đang hoặc mới bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên là dấu hiệu của viêm hạch mạc treo hoặc nguyên nhân liên quan đến phổi
  • Quy luật đại tiện: đại tiện không đều đặn hoặc đại tiện mất tự chủ là dấu hiệu của táo bón
  • Tiền sử chế độ ăn uống: hữu ích khi đánh giá táo bón; lượng thức ăn mới hoặc bất thường có thể hỗ trợ chẩn đoán viêm dạ dày ruột
  • Tiền sử gia đình: tiền sử gia đình có bệnh lý tương tự là một yếu tố nguy cơ của bệnh viêm ruột cũng như bệnh sỏi thận
  • Tiền sử xã hội và tâm thần bao gồm mối quan hệ tương tác trong gia đình: có thể giúp xác định xem đau là do chức năng hay do các nguyên nhân thực thể; các yếu tố tâm lý (ví dụ như trầm cảm, lạm dụng, rối loạn giảm chú ý, rối loạn chống đối), cai sữa, tập đại tiệ, bắt đầu đi học, hoặc các nguyên nhân gây căng thẳng có thể là nguyên nhân gây ra táo bón
  • Tiền sử quan hệ tình dục ở nữ giới trong độ tuổi sinh sản: trẻ vị thành niên có thể sẽ tránh trả lời thành thật các câu hỏi nhạy cảm về tiền sử quan hệ tình dục và sử dụng thuốc khi có mặt bố mẹ hay người bảo trợ; do đó, một số phần của tiền sử có thể khai thác được khi chỉ có một mình trẻ.

Khám lâm sàng

Điều này nên được tiến hành thoải mái và không kèm theo đe dọa. Trẻ em có thể cần được bố mẹ hoặc người bảo trợ dỗ dành để có thể có kết quả khám chính xác. Ở trẻ nhỏ hơn, có thể khó xác định vị trí đau chính xác ở vùng bụng. Xem xét các dấu hiệu thực thể quan trọng cần dựa trên các giá trị thông thường phù hợp với độ tuổi. Bởi vì đau bụng ở trẻ em có thể xuất phát từ các bộ phận khác của cơ thể (ví dụ như sinh dục hoặc phổi), cần phải tiến hành khám lâm sàng toàn diện, bao gồm kiểm tra trực tràng và kiểm tra phân để xem có máu ẩn không (thử nghiệm guaiac). Khám phụ khoa không được thực hiện thường quy; tiền sử có thể giúp định hướng và thăm trực tràng nên được dành riêng cho trẻ vị thành niên là những người đang sinh hoạt tình dục.

Mọi lứa tuổi

  • Chẩn đoán táo bón cần được cân nhắc khi một trẻ em khỏe mạnh bị đau nhẹ vùng bụng, và thấy phân trong trực tràng khi thăm hậu môn Ở các ca bệnh nặng có thể xuất hiện chướng bụng kèm theo sờ thấy khối phân ở vùng bụng hoặc trực tràng. Vết nứt ở hậu môn và/hoặc trĩ (hiếm gặp ở trẻ em; có thể nhầm lẫn thành mụn thịt do bệnh Crohn [BC]), không có lỗ hậu môn hoặc hẹp hậu môn (đặc biệt ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhũ nhi) có thể giúp gợi ý chẩn đoán. Trẻ em bị nứt đốt sống, chậm phát triển, và bại não cũng dễ bị táo bón và các đặc điểm của các chứng này có thể rõ ràng khi thăm khám (ví dụ như vết lõm hoặc rỗ ở xương cụt và/hoặc mụn thịt/búi da là dấu hiệu của bất thường ở cột sống). Đánh giá tâm lý có thể giải thích lý do vì sao triệu chứng cơ năng khó chữa trị khi không có một lý do về tâm lý nghiêm trọng.[Figure caption and citation for the preceding image starts]:Abdominal x-ray of a young boy with acute, severe abdominal pain, demonstrating stool throughout the colon and rectumFrom the collection of Dr KuoJen Tsao; used with permission[Citation ends].
  • Bệnh nhân có triệu chứng đau bụng trung tâm, có hoặc không có phản ứng thành bụng và cứng bụng, mà tập trung ở phần tư dưới bên phải thì cần nghi ngờ viêm ruột thừa. Bằng chứng A  Viêm hạch mạc treo ruột cấp tình thường biểu hiện giống viêm ruột thừa; tuy nhiên, cơn đau ở bụng thường lan tỏa và cảm giác đau không khu trú ở PTDBP. Phản ứng thành bụng có thể xuất hiện nhưng thường không có cứng bụng. Hạch to toàn thể hóa khá phổ biến và là triệu chứng thực thể của nhiễm trùng đường hô hấp trên (ví dụ như sung huyết hầu hoặc họng gợi ý đến viêm họng).
  • Bệnh nhân bị viêm dạ dày ruột thường có triệu chứng đau bụng lan tỏa mà không có bằng chứng của viêm phúc mạc (không có phản ứng thành bụng hay phản ứng Blumberg). Chướng bụng và tăng âm nhu động ruột là triệu chứng thường gặp. Cần chú ý xác định triệu chứng thiếu dịch (nhịp tim nhanh, hạ huyết áp, khô niêm mạc, làm đầy lại mao mạch kém, thóp trũng ở trẻ nhũ nhi). Nếu trong phân có dịch nhầy gợi ý căn nguyên vi khuẩn hoặc ký sinh trùng. Máu trong phân là dấu hiệu của lỵ hoặc hội chứng huyết tán tăng ure máu.
  • Cần nghi ngờ bệnh lồng ruột đối với trẻ nhũ nhi từ 3 đến 12 tháng tuổi có biểu hiện đau thắt bụng, chân cong gập, sốt, li bì, và nôn mửa. Ban xuất huyết Henoch-Schonelin (BXHHS) có thể là yếu tố khởi đầu ở một trẻ lớn (thường <11 tuổi), và do đó cần tìm các triệu chứng thực thể của BXHHS (phát ban có thể sờ thấy, có máu trong phân).
  • Sự xuất hiện của chướng bụng và phản ứng thành bụng liên quan đến giảm hoặc mất âm nhu động ruột là dấu hiệu rõ của tắc đại tràng. Nếu có hiện tượng nôn ra dịch mật kèm theo (đối với bán tắc) hoặc không kèm theo (đối với tắc nghẽn hoàn toàn) thoát phân/trung tiện là dấu hiệu gợi ý tắc ruột non.
  • Biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm loét dạ dày ở trẻ em >6 tuổi giống với người lớn và cần nghi ngờ ở trẻ có biểu hiện đau thượng vị kèm theo hoặc không kèm theo mất máu cấp tính hoặc mạn tính (xanh tái khi khám).
  • Viêm loét đại tràng (VLĐT) thường có biểu hiện tiêu chảy ra máu, trong khi triệu chứng này lại không thường gặp ở BC. Cả hai bệnh đều gây đau bụng khó chịu, biếng ăn, và giảm cân khi biểu hiện ở giai đoạn sau của bệnh. Biểu hiện ngoài ruột của bệnh ruột viêm có thể rõ rệt (ví dụ như viêm mống mắt, viêm khớp, viêm khớp cùng chậu, ban đỏ nốt, mủ da hoại thư). Tùy thuộc vào vị trí ở ruột của BC, nó có thể giống với quá trình bệnh khác chẳng hạn như viêm ruột thừa cấp tính.
  • Sốt có thể là triệu chứng thực thể duy nhất biểu hiện của NTĐT, đặc biệt ở nhóm tuổi trẻ hơn, và do đó NTĐT là chẩn đoán phân biệt hàng đầu ở trẻ em từ 2 tháng tuổi đến 2 tuổi có biểu hiện sốt. Đau bụng hoặc đau hông là phát hiện phổ biến hơn ở những trẻ em lớn hơn. Sốt cao là dấu hiệu của viêm thận bể thận; theo ước tính ở những trẻ em có biểu hiện dấu hiệu bệnh NTĐT, thì có tới hai phần ba số trẻ cũng đồng thời mắc viêm thận bể thận.
  • Viêm túi mật thường liên quan đến sốt. Vàng da thường hiếm gặp với sỏi mật hay viêm túi mật cấp tính và nếu biểu hiện thì là dấu hiệu của tắc nghẽn ống mật chủ. Nhạy cảm đau ở PTTBP là triệu chứng thực thể kinh điển của bệnh túi mật, giống như triệu chứng Murphy (ngừng hít thở khi đồng thời ấn sâu PTTBP).
  • Những bệnh nhân bị loạn vận động đường mật thường có biểu hiện giống với bệnh sỏi mật và viêm túi mật và có thể nhạy cảm đau ở PTTBP khi sờ. Các triệu chứng khi khám lâm sàng có thể không rõ rệt.
  • Những bệnh nhân bị nhồi máu lách thông thường có biểu hiện sốt cũng như đau bụng bên trái; đôi khi bệnh nhân có thể không có triệu chứng. Cơn đau cũng có thể được miêu tả ở bên trái ngực hoặc ở vai trái. Những bệnh nhân bị u nang lách thường không có triệu chứng hoặc có biểu hiện đau bụng bên trái âm ỉ mà không sốt.
  • Đau thượng vị hoặc ở các phần tư trên của bụng là đặc trưng của viêm tuyến tụy. Với bệnh nặng hơn, các triệu chứng hệ thống chẳng hạn như sốt, nhịp tim nhanh, và hạ huyết áp thường biểu hiện. Bệnh nhân có thể nằm gập bằng đầu gối, cong mông và tránh cử động. Quan trọng cần lưu ý rằng, ở những bệnh nhân nhỏ bị viêm tụy (<3 tuổi), cảm giác đau bụng có thể không phải là phát hiện chính; những bệnh nhân này có thể biểu hiện triệu chứng tăng kích thích và chướng bụng. Với bệnh viêm tụy xuất huyết, có thể ghi nhận đổi màu ở xung quanh vùng rốn (triệu chứng Cullen) hoặc ở vùng hông (triệu chứng Grey-Turner) do máu chạy dọc theo các mạch mô nối.
  • Đau bụng và/hoặc đau góc thận kèm theo nước tiểu có máu hay tiểu ra máu đại thể thường là dấu hiệu của sỏi thận kèm theo.
  • Nếu có tím tái, thở nhanh, tiếng thở giảm dần khi nghe, gõ đục (cho thấy sự đông đặc), và đau bụng và chướng bụng mà không có phản ứng thành bụng hay phản ứng Blumberg, thì cần nghi ngờ nguyên nhân về phổi chẳng hạn như viêm phổi hoặc tràn mủ màng phổi.
  • Xoắn tinh hoàn là có thể xảy ra ở bất kỳ trẻ em nam nào với dấu hiệu đau bụng kèm theo mất phản xạ cơ bìu, đau tinh hoàn lan tỏa, tinh hoàn cao, và nằm ngang chứ không phải ở vị trí thẳng theo chiều dọc của tinh hoàn khi thăm khám. Xoắn phần phụ tinh hoàn có thể bị nhầm lẫn với xoắn tinh hoàn; tuy nhiên, bệnh này không làm tổn thương hoạt động của tinh hoàn và thường yêu cầu chăm sóc hỗ trợ. Cơn đau có thể tiến triển chậm hơn (qua nhiều ngày hoặc nhiều tuần) và thường ở điểm đầu (cực điểm của tinh hoàn). Ngoài ra, các triệu chứng hệ thống như buồn nôn và nôn mửa thường không biểu hiện.
  • Nếu có biểu hiện bệnh vàng da khi khám lâm sàng liên quan đến đau bụng, gan to (lách to cũng có thể biểu hiện), và hạch to, đặc biệt ở trẻ em độ tuổi đi học, thì cần nghi ngờ bệnh viêm gan vi-rút (hay gặp là viêm gan A).
  • Chấn thương vùng bụng cần được cân nhắc khi cơn đau bụng không phù hợp với các phát hiện khi khám lâm sàng. Cần tìm các triệu chứng thực thể của tổn thương do tai nạn (chẳng hạn như dấu dây lưng an toàn có thể cho thấy một tai nạn phương tiện cơ giới) và tổn thương do bạo hành (đặc biệt nếu tiền sử có nghi ngờ) (ví dụ như bỏng thuốc lá, xuất huyết dưới màng cứng ở trẻ nhũ nhi/trẻ tập đi). Máu ở lỗ niệu đạo, hoặc tiểu ra máu, có thể là dấu hiệu tổn thương đường tiểu hoặc thận.
  • Nếu phát hiện lâm sàng quá ít và trẻ biểu hiện khỏe mạnh, cần cân nhắc chẩn đoán đau bụng chức năng. Các tiêu chí chẩn đoán đau bụng chức năng dựa trên triệu chứng cơ năng, chứ không dựa trên khám lâm sàng hay xét nghiệm phòng thí nghiệm.

Trẻ nhũ nhi và trẻ tập đi

  • Ở trẻ sơ sinh, tam chứng chướng bụng, chậm phân su (không xuất hiện trong 36 giờ đầu đời), và nôn là dấu hiệu rõ rệt của bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Viêm ruột hoại tử cần được cân nhắc ở trẻ sơ sinh sinh non có cân nặng nhẹ hơn 1500 g. Các dấu hiệu thực thể sớm bao gồm không ăn được, chướng bụng và đau bụng, có máu trong phân, và ban đỏ ở thành bụng. Ở các ca bệnh nặng, có thể có các triệu chứng hệ thống của nhiễm trùng máu. Trẻ sơ sinh có biểu hiện nôn mật, kèm theo (đối với tắc nghẽn một phần) hoặc không kèm theo (đối với tắc nghẽn hoàn toàn) đi phân su, là dấu hiệu rõ rệt của tắc nghẽn ruột non. Các nguyên nhân như tắc ruột phân su, tắc ruột, và xoắn trung tràng cần bị loại trừ cùng với xét nghiệm chuyên sâu.
  • Cần cân nhắc bệnh túi thừa Meckel ở trẻ <2 tuổi với triệu chứng đau bụng (viêm túi thừa Meckel); đại tiện có máu, thường là phân màu đỏ sẫm, nâu sẫm, hoặc màu giống ‘thạch lựu đỏ’ (cho thấy chảy máu ruột vì chúng có chứa mô dạ dày lạc); hoặc triệu chứng thực thể của tắc nghẽn chẳng hạn như buồn nôn, nôn mửa, và táo bón (lồng ruột, xoắn ruột, hoặc thoát vị có thể xuất hiện).

Độ tuổi sinh sản

  • Cần nghi ngờ chửa ngoài tử cung và sảy thai ở mọi phụ nữ ở độ tuổi sinh sản mà có biểu hiện đau bụng dưới, mất kinh, và chảy máu âm đạo. Khám phụ khoa có thể thấy khối, nhạy cảm đau lúc thăm khám cổ tử cung nếu có tràn máu phúc mạc; đứt vỡ vòi trứng có thể gây ra rối loạn huyết động. Các đặc điểm lâm sàng của đứt vỡ nang buồng trứng thường xảy ra trước thời kỳ rụng trứng dự tính và có thể biểu hiện giống mang thai ngoài tử cung. Cơn đau phát sinh từ viêm phúc mạc thứ phát sau xuất huyết. Viêm phúc mạc có thể biểu hiện ở bụng dưới và vùng chậu; kích thước phần phụ tử cung không rõ rệt do nang bị vỡ. Nếu có khối mềm vùng chậu liên quan đến triệu chứng buồn nôn và nôn mửa thì có thể là dấu hiệu của xoắn buồng trứng. Ngoài ra, ở những bệnh nhân đủ tuổi thực hiện khám phụ khoa, cảm giác đau lúc thăm khám cổ tử cung có thể xuất hiện; thông thường không có tiết dịch âm đạo, nhưng có thể có chảy máu âm đạo nhẹ đến trung bình.
  • Các phát hiện lâm sàng của BVVC rất khác nhau và có thể bao gồm nhạy cảm đau vùng bụng, nhạy cảm đau phần phụ cổ tử cung, và nhạy cảm đau khi lay động cổ tử cung. Sốt và tiết dịch âm đạo hoặc tử cung cũng có thể biểu hiện. Nếu nghi ngờ triệu chứng ở trẻ nhỏ, cần tìm các triệu chứng thực thể của lạm dụng tình dục. Bệnh nhân bị BVVC cũng có thể có biểu hiện đau ở PTTBP gây ra bởi tình trạng viêm cơ hoành hoặc tiểu thùy gan, còn được gọi là hội chứng Fitz-Hugh-Curtis. Đây là bệnh thứ phát đến nhiễm trùng ngược dòng. Cơn đau liên đới đến vai phải có thể là do cơ hoành bị kích thích. Cần cân nhắc đau bụng kinh nguyên phát nếu nhạy cảm đau vùng bụng dưới liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.

Xét nghiệm trong phòng thí nghiệm

Các khó khăn trong đánh giá lâm sàng đối với đau bụng ở bệnh nhân nhi khoa cũng có nghĩa là các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quan trọng.

Các xét nghiệm ban đầu cần bao gồm công thức máu (hữu ích trong đánh giá nhiễm trùng và tình trạng viêm) và xét nghiệm sinh hóa đầy đủ (thường gặp rối loạn điện giải liên quan đến các nguyên nhân đường tiêu hóa). Phân tích nước tiểu là rất quan trọng để loại trừ bệnh nền NTĐT hay tiểu ra máu (liên quan đến bệnh sỏi thật, NTĐT, hội chứng huyết tán tăng ure máu, tổn thương đường tiểu hoặc thận) và cần được thực hiện ở trẻ em ở tất cả các lứa tuổi mà có biểu hiện đau bụng. Đối với nữ giới trong độ tuổi sinh sản thì cần thực hiện xét nghiệm mang thai bằng nước tiểu và/hoặc beta-hCG huyết thanh để loại trừ sảy thai và mang thai ngoài tử cung. Xét nghiệm sàng lọc là rất cần thiết khi có nghi ngờ đứt vỡ thai ngoài tử cung, bởi vì tình trạng rhesus của người mẹ sẽ quyết định có cần tiêm globulin miễn dịch kháng D hay không. Các xét nghiệm chức năng gan (XNCNG) là các xét nghiệm cơ bản hữu ích, khi cân nhắc nguyên nhân về gan hoặc tụy (ví dụ như viêm gan vi-rut, viêm túi mật, viêm tụy). Xét nghiệm amylaza và lipaza trong huyết thanh được chỉ định nếu nghi ngờ viêm tụy. Mặc dù không đặc hiệu, nhưng tốc độ lắng hồng cầu (TĐLHC) và protein phản ứng (PPƯ) có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng hoặc tình trạng viêm nền. Hơn nữa, các dấu ấn về viêm này rất tương đồng với tình trạng bệnh ở các ca bệnh ruột viêm.

Soi tươi phân và xét nghiệm nuôi cấy phân có thể hữu ích để xác định căn nguyên nhiễm trùng của viêm dạ dày ruột. Các yếu tố nguy cơ và đặc điểm của biểu hiện lâm sàng giúp hướng dẫn lựa chọn xét nghiệm đối với các căn nguyên cụ thể. Hướng dẫn của Hiệp hội Bệnh Truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA) 2017 về tiêu chảy nhiễm khuẩn khuyến nghị rằng, khi có hiện tượng sốt hoặc tiêu chảy có máu, cần thực hiện xét nghiệm tìm vi khuẩn gây bệnh đường ruột mà kháng sinh có thể điều trị được (bao gồm các loài thuộc họ Salmonella enterica, Shigella, và Campylobacter). Nuôi cấy máu được chỉ định khi có nghi ngờ về nhiễm trùng máu. Chỉ dẫn của IDSA cũng khuyến nghị nuôi cấy máu: ở trẻ em bị tiêu chảy nhiễm trùng mà <3 tháng tuổi hoặc trẻ em bị suy giảm miễn dịch; khi có nghi ngờ bệnh thương hàn (bao gồm việc di chuyển đến các vùng lưu hành dịch thương hàn, hoặc tiếp xúc với những người từ các vùng lưu hành dịch thương hàn có triệu chứng ốm sốt mà không rõ căn nguyên); khi có biểu hiện hệ thống của nhiễm trùng; và với các bệnh nguy cơ cao như thiếu máu huyết tán. Xét nghiệm nuôi cấy nước tiểu cần thiết nếu phân tích nước tiểu cho thấy dấu hiệu của NTĐT. Xét nghiệm nuôi cấy dịch tị hầu thường dành cho những bệnh nhân có nghi ngờ viêm phổi. Hút ra mủ khi chọc dò màng phổi là chẩn đoán xác định tràn mủ màng phổi. Ở các ca mà bệnh nhân có nghi ngờ bệnh viêm loét dạ dày, test thở tìm vi khuẩn Helicobacter pylori hoặc xét nghiệm kháng nguyên trong phân có thể hữu ích. Các marker huyết thanh (kháng thể bào tương kháng bạch cầu trung tính quanh nhân và kháng thể kháng nấm men saccharomyces cerevisiae) đặc biệt hiệu quả để phân biệt BC và viêm loét đại tràng ở nhóm bệnh nhân nhi khoa. Bạch cầu đa nhân (BCĐN) nhìn thấy khi soi tươi huyết trắng dịch âm đạo sẽ xác định nhiễm trùng âm đạo ở các ca bệnh viêm vùng chậu (BVVC). Ở tất cả bệnh nhân bị BVVC, cần xét nghiệm tìm các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Do đó, các xét nghiệm huyết thanh HIV, huyết thanh giang mai, xét nghiệm viêm gan, và tìm nguyên nhân về gen hoặc nuôi cấy dịch tiết âm đạo để tìm vi khuẩn lậu Neisseria gonorrhoeae và nấm Chlamydia cần được chỉ định. Ở những bệnh nhân có nghi ngờ tiếp xúc hoặc có triệu chứng cơ năng của viêm gan A, B, C, D, và E, các xét nghiệm sau đây là bắt buộc: IgM kháng thể viêm gan A, huyết thanh hay đo tải lượng vi-rút viêm gan B, huyết thanh hay đo tải lượng vi-rút viêm gan C, huyết thanh viêm gan D và E. Xét nghiệm về đông máu, bao gồm thời gian prothrombin (PT) và INR thường cần thiết trong các ca bệnh nghi ngờ viêm gan vi-rút để đánh giá chức năng tổng hợp của gan.

Chẩn đoán hình ảnh và các xét nghiệm khác

Tiền sử và kết quả khám lâm sàng là cơ sở cho chỉ định chẩn đoán hình ảnh Chụp X-quang bụng không cản quang thường không đặc hiệu nhưng có thể cho thấy dấu hiệu của tắc nghẽn, có thể phát hiện u phân trên X-quang cũng như tắc tá tràng. Ngoài ra, nếu cản tia đủ thì cũng có thể xác định được sỏi mật hoặc sỏi niệu trên một phim chụp bụng không cản quang. Đây thường là bước kiểm tra ban đầu, và có thể thực hiện rất nhanh. Thường yêu cầu phim chụp ở tư thế nằm ngửa và thẳng đứng. Có khí tự do dưới phúc mạc gợi ý đến thủng ruột và cần can thiệp ngoại khoa ngay lập tức. Cần chỉ định tiến hành chụp X-quang ngực nếu nghi thủng ruột hoặc có nguyên nhân hô hấp như viêm phổi hoặc tràn mủ màng phổi.

Chụp siêu âm tránh phơi nhiễm phóng xạ và thường được dung nạp tốt hơn các thăm dò chẩn đoán hình ảnh khác khác như chụp CT. Một bác sĩ chẩn đoán hình ảnh nhi khoa có kinh nghiệm có thể có khả năng tiến hành siêu âm ở tất cả các vùng của cơ thể (bụng, ngực, tinh hoàn). Chụp siêu âm được coi là đặc biệt hữu ích khi đánh giá cơn đau ở PTTBP (ví dụ như bệnh túi mật) và đau bụng dưới (đau vùng chậu) ở nữ giới. Doppler màu có thể hữu ích trong việc xác định lưu lượng máu buồng trứng trong trường hợp nghi ngờ xoắn buồng trứng. Siêu âm tinh hoàn (sử dụng siêu âm Doppler màu và/hoặc siêu âm đen trắng) có thể chẩn đoán xoắn tinh hoàn và cung cấp thông tin về tình trạng nguyên vẹn mạch máu của tinh hoàn. Siêu âm đường tiết niệu (bao gồm cả thận) hữu ích khi muốn loại trừ các bất thường về giải phẫu (ví dụ như có NTĐT) hoặc bệnh sỏi thận và các biến chứng đi kèm ví dụ như thận ứ nước.

Siêu âm bụng có trọng điểm trong chấn thương (phương pháp FAST) hiệu quả ở trẻ bị chấn thương đụng dập ở bụng có rối loạn huyết động. Có nhiều dịch tự do ổ bụng cho thấy cần can thiệp phẫu thuật ngay lập tức. Siêu âm FAST ở các bệnh nhân huyết động ổn định ít hiệu quả hơn, do kết quả siêu âm bình thường không loại trừ hết tổn thương. Một nghiên cứu quy mô lớn đa trung tâm tại các đơn vị chấn thương nhi khoa cho thấy độ nhạy của FAST thấp (28,6%) ở bệnh nhân huyết áp bình thường. Mặc dù độ đặc hiệu cao (91,1%), kết quả của FAST hiếm khi thay đổi đến phương pháp điều trị. Một thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh FAST với chế độ chăm sóc tiêu chuẩn ở trẻ em và trẻ vị thành niên huyết động ổn định có chấn thương đụng dập trên cơ thể cũng không thấy khác biệt trong tỷ lệ chụp CT bụng, chấn thương vùng bụng bị bỏ sót, khoảng thời gian bị tai nạn và ở phòng cấp cứu và chi phí nằm viện trung bình. Chụp CT vùng bụng với chất cản quang tĩnh mạch là xét nghiệm chẩn đoán được lựa chọn để xác định chấn thương tạng rắn, đặc biệt là ở gan, thận và/hoặc lá lách. Chất cản quang đường uống thường không cần thiết khi chụp bệnh nhân sau chấn thương.

Siêu âm được khuyến cáo là xét nghiệm chụp hình ảnh đầu tiên đối với nghi ngờ viêm ruột thừa. Chụp CT với chất cản quang có thể phù hợp sau khi siêu âm không xác định chẩn đoán; tuy nhiên, cần xem xét nguy cơ bệnh ác tính khi phơi nhiễm tia xạ. Chụp MRI giúp tránh ion hóa bức xạ và có độ nhạy cảm và độ đặc hiệu tương tự hoặc tốt hơn CT, mặc dù khả năng sẵn có cũng như thời gian chụp dài hơn có thể hạn chế hiệu quả.

Nói chung, để thăm dò đau bụng ở trẻ em, chụp CT vùng bụng và vùng chậu, có hay không có chất cản quang, có thể cho nhiều thông tin phục vụ lâm sàng, nhưng cần xem xét việc tiếp xúc với bức xạ. thể cần sử dụng thuốc an thần hoặc gây mê toàn thân ở một số trẻ em.

Chụp cản quang đường tiêu hóa (đường tiêu hóa trên hoặc thụt bari) thường được sử dụng trong chụp CT, đặc biệt là ở trẻ nhũ nhi. Trong đánh giá tắc nghẽn đường ruột, nghi ngờ lâm sàng nên chỉ ra loại chụp cản quang nào nên được thực hiện trước tiên và sẽ là thông tin giá trị.

Có thể cần tiến hành nội soi (nội soi thực quản, dạ dày, tá tràng hay nội soi đại tràng) với sinh thiết để đánh giá bệnh dựa trên niêm mạc, ví dụ như bệnh viêm loét dạ dày và bệnh viêm ruột. Sinh thiết trực tràng và đo áp lực hậu môn-trực tràng giúp xác nhận chẩn đoán bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Các thủ thuật này có thể đặc biệt khó khăn khi thực hiện ở trẻ sơ sinh.

Chẩn đoán rối loạn vận động đường mật được xác nhận bằng chụp hệ gan mật dùng axit iminodiacetic (HGMDAI) với phân suất tống máu <35%. Điều quan trọng cần lưu ý là ngưỡng <35% không được chấp nhận rộng rãi; một số xem xét phân suất tống máu <15% giúp tiên đoán thành công điều trị phẫu thuật cao hơn (ví dụ như thủ thuật cắt bỏ túi mật). Chụp HGMDAI cũng được coi là một cách bổ sung hữu ích trong chẩn đoán viêm túi mật. Chụp xạ hình sử dụng đồng vị phóng xạ technetium-99m pertechnetate được coi là phương pháp hữu ích nhất để chẩn đoán túi thừa Meckel; phương pháp chụp này giúp nhận diện niêm mạc dạ dày lạc chỗ khi chất phóng xạ đánh dấu được hấp thụ bởi các tế bào thành.

Trường môn Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) khuyến nghị rằng chụp X-quang  bàng quang niệu đạo khi tiểu (VCUG) được chỉ định ở trẻ em từ 2 đến 24 tháng tuổi sau khi bị NTĐT ban đầu nếu siêu âm thận và bàng quang cho thấy chứng thận ứ nước, có vết sẹo hoặc các phát hiện khác cho thấy trào ngược bàng quang niệu quản mức độ cao hoặc bệnh đường niệu tắc nghẽn, cũng như trong các trường hợp lâm sàng không điển hình hoặc phức tạp khác. Cần tiến hành đánh giá thêm nếu tái phát NTĐT sốt. Các hướng dẫn lâm sàng khác có các khuyến cáo hơi khác nhau.

Chụp X-quang xương đầy đủ (khảo sát xương) xác định các chấn thương xương trước đây và cần được thực hiện nếu nghi ngờ cao có chấn thương do bạo hành. Điều này chỉ nên được thực hiện để cung cấp chẩn đoán bổ trợ để hỗ trợ tổn thương ban đầu và nghi ngờ có bạo hành.

Add your comment

Secure Payments

Lorem ipsum dolor sit amet. Morbi at nisl lorem, vel porttitor justo.

Money Back Guarantee

Lorem ipsum dolor sit amet. Morbi at nisl lorem, vel porttitor justo.

Free Delivery

Pellentesque habitant morbi netus tristique senectus et malesuada.